Đức Phật có phải là bậc nhất thiết trí không?   Trong thời gian qua, tôi có xuất bản một vài tác phẩm, nhất là tác phẩm “Nghiên Cứu về 5 Việc của Đại Thiên” được một số độc giả đồng tình, nhưng cũng có một số phê phán.  Với tôi việc khen và chê được xem như là điều kiện tốt nhất để kiểm tra lại công trình nghiên cứu của mình, nó không là sự chướng ngại, vì khen và chê là cảm nhận cá nhân của từng người, do vậy nó không phải là điều mà tôi phải bận lòng. Điều mà tôi quan tâm nhất là sự trình bày của mình nó có gắn liền với lịch sử, tiếp cận với sự thật được bao nhiêu?
Bốn mươi lăm năm Hoằng Pháp của Đức Phật theo truyền thống Phật giáo Nguyên thủy     Năm đầu tiên (528 TTL): Sau khi thành đạo vào đêm rằm tháng Vesakha (tức tháng Tư âm lịch), Đức Phật đến ngụ tại khu vườn nai (Lộc uyển), vùng Chư thiên đọa xứ (Isipatana) tức Sa Nặc (Sarnath) ngày nay, gần thành Ba La Nại (Benares). Tại đó, Ngài giảng bài kinh đầu tiên, kinh Chuyển Pháp Luân, hóa độ năm anh em đạo sĩ Kiều Trần Như (Kodanna) và cư sĩ Da Xá (Yasa).
Đức Phật con người vĩ đại   Đức Phật là một con người có nhân cách đặc biệt siêu phàm, có một không hai trong lịch sử của nhân loại. Một văn hào Âu châu nhận định rằng: “Không có nơi nào trong thế giới tôn giáo, sùng bái và tín ngưỡng mà chúng ta có thể tìm thấy một vị giáo chủ chói sáng như thế! Trong hàng loạt các vì sao, Ngài là vì tinh tú khổng lồ, vĩ đại nhất. 
Dòng tộc và quê hương Đức Phật   LTS: Tìm về quê hương Đức Phật là khát vọng lớn của nhiều nhà nghiên cứu và học giả, xưa cũng như nay. Qua khảo sát bằng thực địa cũng như dựa vào những chứng tích, truyền khẩu của dòng họ Shakya hiện nay đang sống ở Nepal, anh Nguyễn Phú đã cung cấp một huớng đi mới trong việc tìm hiểu về quê hương cũng như dòng họ của Đức Phật. Việc lội ngược dòng lịch sử gần ba ngàn năm để tìm lại giá trị văn hóa cổ xưa mà hiện nay đã mang tính toàn nhân lọai là một việc làm ý nghĩa và rất đáng trân trọng. Nguyệt san Giác Ngộ xin giới thiệu bài viết được gởi về từ thủ phủ Kathmandu, kinh đô của Nepal.
Đức Phật sống vào thế kỷ XVII trước Tây lịch?    Đức Phật đản sinh năm  nào, nhập diệt vào thời  điểm nào? Giải đáp của câu hỏi gây bối rối cho giới sử học này, có lẽ được tìm thấy trong những bản cổ văn Phật giáo Ấn Độ và kinh sách.  Tuy nhiên, tác giả Kota Nityananda Sastry, trong tác phẩm gần đây nhất của ông có tên Niên đại của Đức Phật (Age of Lord Buddha), đã cực lực phê phán những cứ liệu lịch sử do các học giả phương Tây biên soạn. Theo ông, những sử gia này đã làm rối thêm lịch sử Ấn Độ.
Lược sử Đức Phật  Nhận Xét Về Sử Liệu Có rất nhiều sử liệu ghi lại khác nhau về ngày, tháng, năm liên hệ đến các sự kiện lịch sử đức Phật. Các nhà học giả Phật giáo và các nhà nghiên cứu Phật học đã nêu nhiều lý do về sự sai biệt đó. Chẳng hạn, Lương Khải Siêu trong tập "Phật học Nghiên cứu Thập bát thiên" cho rằng: "Vì người Ấn Độ xem thường lịch sử, vả lại, quan niệm thời gian của họ rất mơ hồ, nên những sách vở Ấn ngữ đối với niên đại sanh diệt của đức Phật không một sách nào chép rõ ràng, minh xác" (1). Về điều này, không hẳn là người Ấn không có quan niệm rõ ràng về thời gian, hay không có quan niệm lịch sử rõ ràng. Lịch sử cho thấy người Ấn có quan niệm lịch sử sớm nhất, đặc biệt là ở Phật giáo. Chúng ta có thể nhìn thấy nhiều sử liệu qua năm Nikàyas và bốn A-hàm (Àgamas), qua bia ký của vua A-dục (Asoka), trong Thiện Kiến Luật, Tỳ-bà-sa, A-tỳ-đạt-ma v.v...

Đức Phật con người vĩ đại

kinh_1168742652.gif 

Đức Phật là một con người có nhân cách đặc biệt siêu phàm, có một không hai trong lịch sử của nhân loại. Một văn hào Âu châu nhận định rằng: “Không có nơi nào trong thế giới tôn giáo, sùng bái và tín ngưỡng mà chúng ta có thể tìm thấy một vị giáo chủ chói sáng như thế! Trong hàng loạt các vì sao, Ngài là vì tinh tú khổng lồ, vĩ đại nhất. 

Một số các khoa học gia, triết gia, các nhà văn hóa đã tuyên bố về Ngài "Con người vĩ đại nhất chưa từng có”. Ánh hào quang của vị Thầy vĩ đại này soi sáng cái thế giới đau khổ và tối tăm, giống như ngọn hải đăng hướng dẫn và soi sáng nhân loại”.

(Phật giáo dưới mắt các nhà trí thức)
Đức Phật là ai? Một câu hỏi được đặt ra, đã trải qua hơn 25 thế kỷ; những nhận định, phê phán đầy tính hoài nghi, rồi những phát biểu, tán dương đầy xác tín ở nơi con người đối với Đức Phật, cho đến nay vẫn là nguồn cảm hứng vô tận. Bởi lẽ như Carl Jung, một nhà tâm lý học, phát biểu rằng: "Bao giờ cái nhìn của bạn cũng bị giới hạn bởi những gì bạn đang có và đang là”. Vì vậy, với các góc độ nhìn khác nhau, người ta sẽ có những cảm xúc, những cái nhìn khác nhau về Đức Phật.

Giáo thuyết của Đức Phật xuất phát từ kinh nghiệm tu chứng tự thân, đó không phải là kinh nghiệm thông thường phổ biến, cho nên hiểu một cách chính xác về Đức Phật là điều bất khả, như trong kinh nói: Chỉ có Phật với Phật mới hiểu được nhau.

Thời Đức Phật còn tại thế, những kẻ chống đối Ngài thường lên tiếng chỉ trích, vu khống Ngài với những lời lẽ tầm thường hay những luận điệu triết học, như nói: Ngài còn ham muốn danh vọng, Ngài là người chủ trương phá hoại sự sống (Kinh Magandiya), chê Ngài không có khả năng đặc biệt của các bậc Thánh (Kinh Sư tử hống), cho Ngài là một Sa môn sử dụng huyễn thuật (Kinh Ưu ba li)… Bên cạnh những chỉ trích thì những lời lẽ ca ngợi tán dương cũng rất phong phú, những người trí thức của xã hội đương thời thường ca ngợi Ngài rằng: "Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối…” (Kinh Trung Bộ). Dù Ngài bị chỉ trích hay được ca ngợi, Ngài vẫn an nhiên tự tại, không dao động, không bất mãn, không vui mừng. Một người ngoại đạo ca ngợi Phật rằng: "Thật kỳ diệu thay! Tôn giả Gotama! Thật hy hữu thay! Tôn giả Gotama! Dầu cho Tôn giả Gotama bị chống đối một cách mỉa mai, dầu cho bị công kích với những lời lẽ buộc tội trong cuộc đối thoại, màu da Tôn giả vẫn sáng suốt, sắc mặt Tôn giả vẫn hoan hỷ như một A la hán Chánh đẳng giác” (Đại kinh Saccaka). Ngài thường được mọi người gọi là Bậc Đạo sư và đã nói về chính mình như sau:

Một hôm, trên đường đến Lộc Uyển để vận chuyển bánh xe Chánh pháp. Trên đường đi, Ngài gặp một vị đạo sĩ tên là Upaka. Đạo sĩ hỏi: “Này hỡi đạo hữu! Ngũ quan của đạo hữu thật vô cùng trong sáng. Nước da của đạo hữu thật trong trẻo và tươi tắn. Hỡi này đạo hữu, vì sao đạo hữu từ bỏ đời sống gia đình? Thầy của đạo hữu là ai? Đạo hữu truyền bá giáo lý của ai?”. Đức Phật trả lời:

"Như Lai đã vượt qua tất cả, Như Lai đã thông suốt tất cả.
Như Lai đã vượt bỏ mọi trói buộc
Như Lai đã thoát ly tất cả
Như Lai đã chú hết tâm lực tận diệt tham dục.
Đã thấu triệt tất cả, Như Lai còn gọi ai là thầy?
Không ai là thầy của Như Lai
Không ai đứng ngang hàng với Như Lai.
Trên thế gian này, kể cả chư Thiên và Phạm thiên
Không ai có thể sánh với Như Lai.
Quả thật, Như Lai là một vị A la hán trên thế gian này.
 Như Lai là Tôn sư vô thượng;
 Chỉ một mình Như Lai là Bậc Toàn giác, vắng lặng và thanh tịnh.
 Như Lai đang đến thành Kàsi để vận chuyển bánh xe Pháp bảo giữa thế giới mù quáng.
 Như Lai sẽ gióng lên hồi trống vô sanh bất diệt”.

Upaka hỏi vặn: “Này đạo hữu, vậy phải chăng đạo hữu đã tự nhận là A la hán, là bậc siêu hùng quyền lực vô biên?”. Đức Phật xác định: "Tất cả những bậc siêu hùng đã chinh phục mọi ô nhiễm của mình đều giống Như Lai. Như Lai đã chinh phục, tận diệt tất cả những gì xấu xa tội lỗi. Vậy, này đạo sĩ  Upaka, Như Lai là bậc siêu hùng” (Kinh Thánh cầu - Kinh Trung Bộ).
Đức Phật xác định rất rõ Ngài là người đã chinh phục mọi ô nhiễm, người như vậy là người cao thượng nhất trên đời. Đây là lời tuyên bố đầu tiên về giá trị cao thượng tuyệt đối của Phật đối với mọi loài chúng sanh, về sau lời tuyên bố này đã được khái quát hóa thành câu nói đặt trong bối cảnh biểu tượng Đản sanh: "Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn” (Trên trời dưới trời chỉ có ta là tối thượng). Suốt cuộc đời hoằng hóa của Ngài đã chứng tỏ những gì mà Ngài đã tuyên bố như trên là sự thật. Có một giáo phái ngoại đạo muốn đến tham vấn về đạo lý với Đức Phật bởi họ nghe nói Phật là người đã vượt qua mọi ô nhiễm, đạt được sự thanh tịnh hoàn toàn. Họ đã bàn nhau và cử người giám sát Đức Phật liên tục trong bảy ngày để xem Phật có thật sự thanh tịnh như người ta đồn không. Cuối cùng, người được cử đi giám sát trở về báo lại rằng: “Quả thực Sa môn Gotama là người hoàn thiện trong lúc ngủ cũng như lúc thức cho đến những cử động nhỏ bé nhất như khi Ngài bước qua một vũng nước hay Ngài vén chéo áo lên… đều đầy thánh thiện” (Kinh Trung Bộ).

Lần khác, khi bị một người chỉ trích về khả năng và mục đích của Phật, sau khi phân tích những sai lầm của họ, Đức Phật dạy rằng:"Này Sariputta, những ai muốn nói về Ta một cách đúng đắn thì phải nói như thế này: (Đức Phật) Một hữu tình không bị si chi phối, đã sanh ra ở đời vì lợi ích, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người” (Kinh Sư tử hống - Kinh Trung Bộ). Lời tuyên bố này nói lên phẩm chất của một vị Phật là Trí tuệ viên mãn (không bị si chi phối) và lòng thương yêu cứu giúp muôn loài vô tận.

Tất cả những năng lực của Đức Phật đều xuất sinh từ tuệ giác của Ngài, nghĩa là từ nội dung chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng giác dưới cội bồ đề. Có lần một du sĩ ngoại đạo tên là Vacchagotta hỏi Phật rằng: "Bạch Đức Thế Tôn, con nghe người ta nói rằng, Sa môn Gotama là Bậc Nhất thiết trí, là Bậc Nhất thiết kiến, Ngài tự cho là mình có tri kiến hoàn toàn, khi đi, khi đứng, khi ngủ, khi thức… Tri kiến luôn luôn tồn tại và liên tục. Bạch Thế Tôn, những điều mà người ta nói như vậy có đúng với sự thực không, họ có vu khống Đức Thế Tôn không?” . Đức Phật đáp rằng, họ nói như vậy là “không đúng với điều Ta đã nói, là vu khống Ta”. Như vậy, Đức Phật phủ nhận Ngài có một loại trí tuệ lúc nào cũng hiện diện và thấy biết cùng khắp, trong lúc thức cũng như trong lúc ngủ. Vacchagotta hỏi: Vậy phải nói như thế nào mới đúng? Đức Phật dạy rằng nếu muốn nói đúng thì phải nói Sa môn Gotama là bậc có Ba minh. “Khi nào Ta muốn, Ta sẽ nhớ đến nhiều đời sống quá khứ, như một đời, hai đời… cho đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và chi tiết. Này Vacchagotta, nếu Ta muốn thì với Thiên nhãn thuần tịnh, Ta thấy được sự sống chết của chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh… đều do hành nghiệp của họ. Này Vacchagotta, với sự đoạn diệt các lậu hoặc, ngay trong hiện tại, với thượng trí giác ngộ, Ta an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Nói như vậy là nói đúng về Ta” (Kinh Ba minh Vacchagotta).

Như vậy Tam minh: Túc mạng minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh là nội dung chứng ngộ của Phật. Đặc biệt chỉ có Phật mới có đầy đủ Ba minh trong ý nghĩa trọn vẹn nhất, mặc dù trên lộ trình tu tập, Ba minh luôn được coi là những thành quả sau cùng của một hành giả đắc đạo.

Đối với các thần thông, Ngài đã tuần tự chứng đắc Thần túc thông, Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông trước khi Ngài thành Phật. Trong đêm thành đạo, Ngài mới chứng tiếp ba thần thông sau cùng theo thứ tự Túc mạng thông (minh), Thiên nhãn thông (minh) và Lậu tận thông (minh). Phật dạy: "Khi Ta chưa chứng Chánh Đẳng Giác, Ta đã nỗ lực tu tập 5 pháp: Ta đã tu tập Thần túc với Dục định tinh cần hành, Tinh tấn định tinh cần hành, Tâm định tinh cần hành, Tư duy định tinh cần hành và Tăng thượng tinh tấn, tùy theo Ta hướng tâm đến pháp nào, Ta có thể chứng đạt pháp ấy” (Kinh Tăng Chi II). Không có pháp nào làm chướng ngại Đức Phật, không có pháp nào mà Đức Phật không thấy rõ, biết rõ, vì vậy đệ tử thường gọi Ngài là Đấng Pháp Vương.

Nhân ngày kỷ niệm Đức Phật Đản sinh Phật lịch 2550, đôi lời nói về sự vĩ đại, sự thanh tịnh, sự chứng ngộ của Đức Phật chỉ để bày tỏ lòng kính ngưỡng của người con Phật và để tri ân Người đã khai sinh ra con đường giải thoát cho nhân loại. Với những ngôn từ hữu hạn giữa cuộc đời đầy ô nhiễm, con người không thể ca ngợi hết được sự vĩ đại của Đức Phật.

Để kết thúc, xin mượn lời của thi nhân Abdul Atahiya ca ngợi Đức Phật: “Nếu bạn muốn thấy người cao quý nhất của loài người, bạn hãy nhìn vị hoàng đế trong y phục một người ăn xin; chính là Ngài đó, siêu phàm, thánh tính của Ngài thật vĩ đại giữa con người” (Đức Phật dưới mắt các nhà tri thức).

 

Thích Viên Giác

 

Thông báo lễ Vu Lan

- Nhân mùa Vu Lan Báo Hiếu năm Canh Dần (2010) chùa có tổ chức:
  + Lễ Trai Tăng Dân Y Cúng Dường Kỳ Siêu Cữu Huyền Thất Tổ và các hương linh quá vãng.
  + Bố thì quà (gạo, mì...) cho dân nghèo.
  + Chẫn tế cô hồn kỳ siêu bạt độ
.
Trân trọng kính mời quý phật tử về chùa tham dự đầy đủ vào những ngày sau:
* Tại chùa Giác Hoằng 3:
  - Ngày 15/7 âm lịch: Lễ Vu Lan + cài Hoa Hồng.
  - Ngày 18/7 âm lịch: Trai tăng dâng y (40 vị).
* Tại chùa Giác Hoằng 1:
  - Ngày 14/7 âm lịch: Lễ Vu Lan + cài Hoa Hồng (19 giờ)
  - Ngày 24/7 âm lich: Phát quà cho dân nghèo.
  - Ngày 25/7 âm lịch:
    + Lễ Cúng Dường Trai Tăng dâng y (50 vị) (9 giờ)
    + Lễ Chẫn tế cô hồn kỳ siêu bạt độ (13 giờ)

Thời gian làm việc

(Tại 135-137-139 Lý Nam Đế, phường 7, quận 11, Tp. HCM.)


- Từ Thứ 2 đến Thứ 6:
Sáng: 7h30 đến 11h
Chiều: 13h30 đến 17h30
 


- Thứ 7 và Chủ Nhật:
Làm việc tại Chùa Giác Hoằng 3

Truyện Cổ

Ðầu đời mạt pháp về thời Ðức Phật Tỳ Bà Thi, tại sứ Ba La Nại có một hòn núi tên là Tiên Thánh Sơn. Trong núi thường có các vị Sa môn Bích Chi Phật tu hành. Thường thường có các loài cầm thú hay đến gần gũi để nghe thuyết pháp. Có một con sư tử tên là Kiên Thệ, lông ánh sắc vàng, sức mạnh địch trên một ngàn con. Một khi rống lên thì chim bay phải rớt xuống, loài thú phải ẩn nấp sợ hãi.

Xem Tiếp

Hầu Nhị ở Kim Ðơn vốn là kẻ bất hiếu. Bà mẹ đem gạo giúp đỡ người ăn xin, Hầu Nhị trông thấy nổi giận đánh mẹ và đuổi ra khỏi nhà. Vợ con khóc lóc can gián, y cũng không nghe. Chẳng bao lâu khắp mình Hầu Nhị sanh ghẻ độc lở lói, hành hạ đau nhức cho đến lúc mãn phần.

Xem tiếp

Chat YM

Tìm Kiếm

You need Flash player 6+ and JavaScript enabled to view this video.

Lịch

Nhạc & Kinh

Jukebox
24%20HUYEN%20THOAI%20ME%20-%20Copy%20(2).lite.mp3
21%20QUE%20HUONG.lite.mp3
20%20TINH%20CA%20DANG%20CHA.lite.mp3
19%20Mung%20tuoi%20me%20-%20Truong%20vu.lite.mp3
18%20DAO%20LAM%20CON.lite.mp3
17%20TINH%20CA%20VU%20LAN%20-%20Copy%20(2).lite.mp3
14%20DONG%20SUOI%20NGOT%20-%20THANH%20LAN%20-%20Copy%20(2).lite.mp3
13%20THANG%207%20VU%20LAN%20-%20THANH%20THUY%20-%20Copy.lite.mp3
12%20ME%20TU%20BI%20-%20MAI%20LAN%20-%20Copy%20(2).lite.mp3
11%20MUC%20KIEN%20LIEN%20-%20THUY%20DUONG%20-%20Copy%20(2).lite.mp3

Who's Online

We have 5 guests online